3/12/12

Cô gái Do Thái

Trong số những học sinh ở một trường từ thiện Thiên chúa có một bé gái người Do Thái. Đứa trẻ tốt, thông minh và là học sinh sáng dạ nhất trường; vậy nhưng em lại không được tham gia một môn học dành cho các học sinh Thiên chúa, đó là môn học thánh kinh.

Cứ đến tiết học này, em lại được phép mở sách địa lý ra đọc hoặc làm bài tập về nhà. Nhưng những việc đó em cũng làm một loáng là xong. Khi đã học thuộc lòng bài địa lý, quyển sách vẫn mở trước mặt, nhưng em thì lại lặng lẽ lắng nghe lời của thầy giáo giảng về Thiên Chúa giáo; thầy cũng sớm nhận ra rằng em nghe giảng chăm chú hơn tất cả những học sinh khác.

"Hãy chú tâm vào quyển sách địa lý của em, Sara", thầy giáo nhắc nhở nhẹ nhàng; nhưng đôi mắt đen rạng ngời của em vẫn chăm chú nhìn thầy; và một lần, khi thầy giáo đặt câu hỏi cho em, em đã biết cách trả lời tốt hơn bất kỳ đứa trẻ nào khác. Em gái đã nghe, hiểu và nghi nhớ lời giảng của thầy giáo trong trái tim mình.

Khi người cha nghèo khổ, thật thà của em lần đầu tiên đưa em tới trường, ông đã đề nghị rằng cô con gái nhỏ của ông sẽ không có mặt trong các buổi học về Thiên chúa giáo. Nhưng nếu em phải ra khỏi lớp trong những tiết học đó thì lại có thể gây ra phiền phức, và có thể khuấy lên sự phân biệt và khó chịu trong lòng những đứa trẻ khác, vì vậy mà em vẫn được ngồi trong lớp. Việc này không thể tiếp diễn được nữa.

Thầy giáo đã đích thân gặp cha em và khuyên ông hoặc là chuyển trường cho con gái, hoặc là chấp nhận để Sara tiếp thu Thiên chúa giáo.

"Tôi không thể làm ngơ trước đôi mắt bừng sáng của cô bé cũng như không thể không cảm nhận được cái cách mà em thiết tha đón đợi từng lời Phúc âm" - thầy giáo đã nói với người cha như vậy. Khi đó, người cha bật khóc.

"Bản thân tôi cũng không hiểu lắm về giới luật của Do Thái giáo - ông nói -. Nhưng mẹ của Sara lại rất ngoan đạo, tôi đã thề khi bà hấp hối rằng đứa con gái bé bỏng của chúng tôi sẽ không bao giờ cải đạo theo Thiên chúa. Tôi phải giữ lời thề với bà ấy và đó cũng là điều ghi trong Cựu ước mà người Do Thái phải tuân theo để trung thành với Chúa của mình".

Và vì thế, em gái Do Thái thôi học ở ngôi trường Thiên chúa nọ.

Năm tháng trôi đi, ở một thị trấn nhỏ có một cô gái giúp việc trong một gia đình bình dân, một cô gái có mái tóc đen như gỗ mun, mắt sẫm và sáng trong như màu trời đêm, trông cô cũng giống như bao cô gái Israel khác. Đó là Sara. Sắc diện của người thiếu nữ cũng không khác gì sắc diện của đứa trẻ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và lắng nghe chăm chú những lời giảng về Thiên chúa giáo.

Mỗi chủ nhật, tiếng đại phong cầm và thánh ca từ nhà thờ vẫn vọng đến . Âm điệu vang tới ngôi nhà nơi cô gái Do Thái làm việc.

"Mình cần phải trung thành với lễ Sabbath" một giọng nói vang lên trong cô, đó là giọng nói của lòng trung thành; nhưng ngày lễ Sabbath của cô lại là ngày bình thường của người Thiên chúa, và điều này có vẻ là một điều không may mắn đối với cô. Nhưng một ý nghĩ le lói trong tâm hồn cô: "Nhưng Chúa đâu có phân biệt ngày, giờ?", và khi ý nghĩ này lớn dần lên trong cô, cô cảm thấy yên tâm rằng vào chủ nhật của người Thiên chúa, khi tiếng đại phong cầm và thánh ca của ca đoàn vang tới chỗ cô đang làm việc, dù đó là trong bếp thì nơi đó cũng trở thành thánh đường đối với cô. Trong sâu thẳm trái tim, cô vẫn ghi nhớ những lời thầy giáo nói, nhưng cũng không quên lời hứa của cha với người mẹ đã quá cố của cô không phản lại niềm tin của tổ tiên. Thế là cô nhẩm những bài kinh trong Cựu ước, về sự cao quý của người Do Thái. Cô cần phải coi Tân ước là một cuốn sách cấm nhưng thánh kinh vẫn vang lên văng vẳng trong ký ức tuổi thơ cô.

Một buổi tối, cô gái ngồi trong góc phòng khách. Ông chủ của cô đang đọc một quyển truyện cho mọi người nghe; và cô cũng có thể ngồi lại nghe vì đó không phải là thánh kinh. Câu chuyện kể về một hiệp sĩ Hungary bị một tướng quân Thổ Nhĩ Kỳ bắt làm tù binh, bị đóng ách với những con bò để cày ruộng và bị người ta dùng roi quật cho toé máu: Chàng hiệp sĩ gần như gục ngã do không chịu được đau đớn và nhục nhã. Người vợ chung thuỷ của chàng ở quê nhà đã phải gom tất cả vàng bạc châu báu, cầm cố nhà cửa, đất đai để ra đi tìm chồng. Bạn bè của chàng cũng gom tiền của góp cho đủ số tiền chuộc khổng lồ. Cuối cùng, chàng hiệp sĩ đã được giải thoát khỏi nhục hình và khổ sai. Về được đến nhà thì chàng cũng đổ bệnh và kiệt sức. Nhưng chẳng bao lâu sau, một lệnh triệu quân đi đánh những kẻ thù lại được ban ra: Chàng hiệp sĩ thấy những tiếng reo hò và bứt rứt không yên, không thể ở nhà. Chàng nhảy lên yên ngựa; máu nóng lại bốc lên mặt và sức mạnh dường như đã trở lại với chàng, chàng đã xông ra chiến trường để kiếm tìm chiến thắng. Chính tướng quân Thổ Nhĩ Kỳ xưa kia đã đóng ách chàng cùng với những con bò cày ruộng thì giờ đây lại trở thành tù binh và bị giải về lâu đài của chàng. Chẳng đầy một giờ sau, chàng hiệp sĩ đứng trước tù bình của mình và bảo:

"Ngươi có biết cái gì đang đợi ngươi không?".

"Ta biết - người tù binh Thổ Nhĩ Kỳ đáp - Sự trả thù".

"Theo cách của người Thiên chúa! - Chàng hiệp sĩ nói. - Thiên chúa dạy rằng chúng ta phải tha thứ cho kẻ thù của chúng ta và yêu đồng loại. Thiên chúa dạy rằng Chúa là tình yêu. Hãy rời khỏi đây trong hoà bình, hãy trở về quê hương của ngươi: Ta trả ngươi về cho những người thân yêu của ngươi; nhưng từ nay hãy tử tế và rộng lượng với những người không may mắn".

Đến lúc này thì người tù nhân oà khóc và kêu lên:

"Tôi không thể tin được phước lành này? Tôi tưởng rằng chỉ có đau đớn và bất hạnh đang chờ đợi mình, không nghi ngờ gì cả; vì vậy tôi đã uống thuốc độc giấu bên mình, chỉ trong mấy giờ đồng hồ nữa thôi, thuốc sẽ ngấm và tôi sẽ chết. Tôi phải chết, không có thuốc giải nữa rồi! Nhưng trước khi chết, xin hãy truyền cho tôi những giáo lý của tình yêu và lòng khoan dung cao cả! Hãy cho tôi ân huệ được thụ giáo và được chết như một người Thiên chúa!". Và thế là người tù nhân được thoả nguyện.

Đó là truyền thuyết mà ông chủ đọc cho mọi người nghe. Tất cả thính giả đều lắng nghe với sự đồng cảm, say sưa; và Sara - cô gái Do Thái - thì ngồi một mình trong góc của mình, lắng nghe với một trái tim cháy bỏng; những giọt nước mắt dâng lên trong đôi mắt đen sáng trong, cô ngồi lặng lẽ như khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, cảm nhận sự kỳ diệu, vĩ đại của Thánh kinh; những giọt nước mắt lăn trên má.

Nhưng lúc này, những lời trăng trối của mẹ cô lại vang lên.

"Đừng cho con gái nhỏ của tôi cải đạo theo Thiên chúa", và giọng nói trong tâm hồn cô cũng vang lên cùng với lời răn của Do Thái giáo: "Con phải kính trọng, trung thành với cha và mẹ của mình".

"Tôi không được chấp nhận trong cộng đồng người Thiên chúa giáo" - cô tự nhủ -. "Họ tẩy chay tôi vì tôi là một cô gái Do Thái, những cậu bé hàng xóm chủ nhật trước đã la ó đuổi tôi đi khi tôi ở cửa nhà thờ mà nhìn những cây nến cháy trên bàn thờ và lắng nghe thánh ca. Từ khi đi học, tôi đã cảm nhận được sức mạnh của Thiên chúa, một sức mạnh giống như tia nắng mặt trời, tràn vào tâm hồn dù tôi có nhắm chặt mắt mình. Nhưng con cũng không muốn làm cho mẹ khổ tâm, ôi mẹ thân yêu, con sẽ không phản bội lời thề của cha, con sẽ không đọc kinh thánh của người Thiên chúa. Con có tôn giáo của mình và con sẽ trung thành với nó!".

Và năm tháng vẫn tiếp tục trôi đi.

Người chủ của cô gái qua đời. Người vợ goá của ông trở nên nghèo túng, không thể có đủ tiền để thuê người ở nữa. Nhưng Sara không muốn rời bỏ ngôi nhà: Cô tự nguyện ở lại đỡ đần việc nhà trong lúc khó khăn, làm việc bằng chính sức lực và đôi tay mình tới tận đêm khuya để kiếm tiền mua bánh mì. Không họ hàng nào chìa tay giúp đỡ gia đình cả, bà chủ đã mấy tháng trời nằm trên giường bệnh lại một ngày một yếu. Sara làm việc cật lực, trong những phút rảnh rỗi, cô ngồi bên giường bệnh chăm sóc người ốm, dịu dàng và thành tâm như một thiên thần trong ngôi nhà nghèo khổ.

"Trên bàn có quyển kinh thánh đấy - Người ốm nói với Sara -. Hãy đọc cho ta nghe một đoạn nào đó, đêm sao mà dài thế, dài quá thế! Tâm hồn ta khao khát được nghe lời của Chúa".

Sara gật đầu. Cô đặt hai tay mình trên quyển kinh thánh của người Thiên chúa, mở ra và đọc cho người đàn bà đang ốm. Những giọt nước mắt long lanh trong đôi mắt rạng ngời và trái tim cô toả sáng.

"Ôi, mẹ của con - cô thì thầm - Con của mẹ không thể nhận lễ ban thánh thể Thiên chúa, cũng không được chấp nhận ở nhà thờ, con sẽ nghe theo lời của mẹ: Chúng ta đã hợp nhất với nhau trong cuộc sống trên cõi đời này, nhưng sau cõi đời này còn có một sự hợp nhất cao nữa, đó là sự hợp nhất dưới sự che chở của Chúa!".

Cô gái rùng mình khi cô vừa gọi tên thiêng, một ngọn lửa như trùm lấy cô, toàn bộ thân mình rung động, chân tay bủn rủn, cô lăn ra bất tỉnh, trở nên yếu sức hơn cả người đàn bà trên giường bệnh.

"Sara đáng thương! - người ta bảo nhau - Cô ấy đã làm việc quá sức!".

Người ta đưa cô đến bệnh viện dành cho người nghèo. Cô đã qua đời ở đó và được đưa về nơi an nghỉ, nhưng không phải một ngôi mộ trong nghĩa địa, vì ở đó không có chỗ cho một cô gái Do Thái: Mộ của cô nằm ở bên ngoài bức tường rào nghĩa địa.

Mặt trời của Chúa, mặt trời chiếu sáng trên mộ của những người Thiên chúa trong nghĩa địa cũng chiếu sáng trên mộ của cô gái Do Thái nằm ngoài bức tường. Khi những bài thánh ca cất lên trong nhà thờ, chúng cũng vang tới nơi yên nghỉ của cô gái cô đơn; và linh hồn của cô cũng hoà trong lời cầu nguyện phục sinh:

"John làm lễ thánh cho con bằng nước, nhưng ta sẽ làm lễ cho con bằng linh hồn thánh thiện!".

Yến Khanh dịch

Nguồn: www.mvatoi.com